TURP syndrome – Signs – Symptoms - Pathophysiology
Indian Journal Urology 13/3/2017
Translator: Lê Thành Duy & Hoang Tien
Indian Journal Urology 13/3/2017
Translator: Lê Thành Duy & Hoang Tien
Signs and Symptoms
Hội chứng TURP có thể xuất hiện bất cứ thời gian nào trong quá trình phẫu thuật có thể vài phút ngay sau khi bắt đầu phẫu thuật hay xuất hiện muộn vài giờ sau phẫu thuật.
Sau khi gây mê, bênh nhân có biểu hiện chóng mặt, đau đầu, nôn, khó thở, kích thích, đau bụng. Tăng cả HATT, HATTr và nhịp tim chậm.
Nếu không điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể xuất hiện tím tái và hạ HA và muộn hơn có thể ngừng tim.
Một số BN xuất hiện thay đổi trạng thái thần kinh như thờ ơ hay mất ý thức.
Đồng tử 2 bên giãn và PXAS chậm có thể xẩy ra sau cơn động kinh dẫn đến tình trạng hôn mê.
Những case gây mê toàn thân ( General Anesthesia (GA)), chẩn đoán hội chứng TURP khó khăn hơn và nhìn chung thường muộn.
Các dấu hiệu thường gặp là tăng HA sau đó giảm HA và nhịp tim chậm khó phục hồi mà KHÔNG GIẢI THÍCH ĐƯỢC.
ECG biến đổi nhịp, ST chênh, sóng U và phức bộ QRS giãn rộng. Phục hồi GA và giãn cơ có thể chậm.
1. Quá tải tuần hoàn
Hầu như tất cả các TURP và TCRE đều hấp thu 1 lượng nhỏ các dịch rửa thông qua các tĩnh mạch vùng ổ tuyến tiền liệt ( prostatic bed) và các vị trí tương ứng. Rò rỉ tự phát thông qua các ống fallopian làm tăng hấp thu dịch trong suốt TCRE. Sự hấp thụ hơi đã được nghiên cứu bằng test bốc hơi ethanol (breath ethanol tests ) thấy hơi biến mất sau khi cho dung dịch ethanol 1% vào dung dịch tưới rửa.
Sự hấp thu 1lít dịch trong vòng một giờ, tương ứng với sự giảm nồng độ natri trong huyết tương là 58 mmols/l.
Tốc độ trung bình của hấp thu dịch trong TURP là 20 ml/p. Do tình trạng quá tải khối lượng tuần hoàn, lượng máu tăng, huyết áp tâm thu và tâm trương tăng lên, tim có thể ngừng.
Dịch hấp thụ làm loãng các protein huyết thanh và làm giảm áp suất keo của máu. Điều này kết hợp với huyết áp tăng làm cho dịch từ lòng mạch vào khe kẽ gây ra chứng phổi và phù não. Ngoài hấp thu trực tiếp vào tuần hoàn, 1 lượng đáng kể (lên đến 70% ) dịch rửa đã tích tụ lại ở khoảng kẽ, xung quanh tuyến tiền liệt và khoang sau phúc mạc. Mỗi 100 ml dịch vào khoang kẽ, có 10 - 15 meq Natri cũng kéo vào theo.
Mặc dù thời gian phẫu thuật không được chứng minh rõ ràng là yếu tố quyết định đến lượng dịch bị hấp thu, nhưng bệnh suất và tử suất cao hơn 1 cách có ý nghĩa khi thời gian phẫu thuật dài trên 90 phút.
Ở diện mổ, sự hấp thụ nội mạch tỷ lệ thuận với kích thước của tuyến tiền liệt, trong khi sự hấp thu ở khoang kẽ phụ thuộc chủ yếu vào sự toàn vẹn của vỏ bao tiền liệt tuyến. Quá tải tuần hoàn xảy ra khi trọng lượng của tuyến trên 45 gram.
Một yếu tố quan trọng quyết định tỷ lệ hấp thụ dịch là áp suất thủy tĩnh ở ổ tuyến tiền liệt. Áp suất này phụ thuộc vào chiều cao của cột nước tưới rửa và áp lực bên trong bàng quang trong quá trình phẫu thuật. Chiều cao lý tưởng của cột tưới rửa là 60 cm và để khoảng 300 ml.
Sau khi gây mê, bênh nhân có biểu hiện chóng mặt, đau đầu, nôn, khó thở, kích thích, đau bụng. Tăng cả HATT, HATTr và nhịp tim chậm.
Nếu không điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể xuất hiện tím tái và hạ HA và muộn hơn có thể ngừng tim.
Một số BN xuất hiện thay đổi trạng thái thần kinh như thờ ơ hay mất ý thức.
Đồng tử 2 bên giãn và PXAS chậm có thể xẩy ra sau cơn động kinh dẫn đến tình trạng hôn mê.
Những case gây mê toàn thân ( General Anesthesia (GA)), chẩn đoán hội chứng TURP khó khăn hơn và nhìn chung thường muộn.
Các dấu hiệu thường gặp là tăng HA sau đó giảm HA và nhịp tim chậm khó phục hồi mà KHÔNG GIẢI THÍCH ĐƯỢC.
ECG biến đổi nhịp, ST chênh, sóng U và phức bộ QRS giãn rộng. Phục hồi GA và giãn cơ có thể chậm.
1. Quá tải tuần hoàn
Hầu như tất cả các TURP và TCRE đều hấp thu 1 lượng nhỏ các dịch rửa thông qua các tĩnh mạch vùng ổ tuyến tiền liệt ( prostatic bed) và các vị trí tương ứng. Rò rỉ tự phát thông qua các ống fallopian làm tăng hấp thu dịch trong suốt TCRE. Sự hấp thụ hơi đã được nghiên cứu bằng test bốc hơi ethanol (breath ethanol tests ) thấy hơi biến mất sau khi cho dung dịch ethanol 1% vào dung dịch tưới rửa.
Sự hấp thu 1lít dịch trong vòng một giờ, tương ứng với sự giảm nồng độ natri trong huyết tương là 58 mmols/l.
Tốc độ trung bình của hấp thu dịch trong TURP là 20 ml/p. Do tình trạng quá tải khối lượng tuần hoàn, lượng máu tăng, huyết áp tâm thu và tâm trương tăng lên, tim có thể ngừng.
Dịch hấp thụ làm loãng các protein huyết thanh và làm giảm áp suất keo của máu. Điều này kết hợp với huyết áp tăng làm cho dịch từ lòng mạch vào khe kẽ gây ra chứng phổi và phù não. Ngoài hấp thu trực tiếp vào tuần hoàn, 1 lượng đáng kể (lên đến 70% ) dịch rửa đã tích tụ lại ở khoảng kẽ, xung quanh tuyến tiền liệt và khoang sau phúc mạc. Mỗi 100 ml dịch vào khoang kẽ, có 10 - 15 meq Natri cũng kéo vào theo.
Mặc dù thời gian phẫu thuật không được chứng minh rõ ràng là yếu tố quyết định đến lượng dịch bị hấp thu, nhưng bệnh suất và tử suất cao hơn 1 cách có ý nghĩa khi thời gian phẫu thuật dài trên 90 phút.
Ở diện mổ, sự hấp thụ nội mạch tỷ lệ thuận với kích thước của tuyến tiền liệt, trong khi sự hấp thu ở khoang kẽ phụ thuộc chủ yếu vào sự toàn vẹn của vỏ bao tiền liệt tuyến. Quá tải tuần hoàn xảy ra khi trọng lượng của tuyến trên 45 gram.
Một yếu tố quan trọng quyết định tỷ lệ hấp thụ dịch là áp suất thủy tĩnh ở ổ tuyến tiền liệt. Áp suất này phụ thuộc vào chiều cao của cột nước tưới rửa và áp lực bên trong bàng quang trong quá trình phẫu thuật. Chiều cao lý tưởng của cột tưới rửa là 60 cm và để khoảng 300 ml.
2. Ngộ độc nước
Một số bệnh nhân bị hội chứng TURP có các triệu chứng của ngộ độc nước, rối loạn thần kinh do tăng lượng nước trong não ( phù não). Ban đầu xuất hiện tình trạng ngủ gà và sau đó kích thích, buồn nôn. Động kinh có thể xẩy ra có thể dẫn đến hôn mê, chết não. Bệnh nhân sẽ có tăng phản xạ gân xương và phản xạ Babinski dương tính.
Phù gai thị kèm theo giãn đồng tử và chậm đáp ứng phản xạ ánh sáng có thể xuất hiện. Trên EEG thấy sóng điện não thấp ở cả 2 bán cầu.
Các triệu chứng của ngộ độc nước có thể xuất hiện khi Na máu hạ dưới mức bình thường 15 – 2-0 meq/l.
3. Hạ Na máu
Giữ tính kích thích và dẫn truyền thần kinh - cơ do duy trì hiệu thế hoạt động giữa trong và ngoài tế bào, đặc biệt tế bào cơ tim và tế bào não.
Một số cơ chế dẫn đến giảm Na máu ở các bệnh nhân TURP:
Do hấp thu dịch rửa quá mức làm pha loãng Na máu.
Mất trực tiếp Na ra ngoài qua hệ thống tưới rửa dịch ở diện mổ nội soi cắt khối tăng sinh tuyến tiền liệt.
Mất Na do tích tụ dịch ở khoang sau phúc mạc và khoang quanh tuyến tiền liệt.
Số lượng lớn glycin kích thích giải phóng peptid natri lợi liệu tâm nhĩ ( ANP - atrial natriuretic peptide) vượt quá giới hạn bình thường ở trong tuần hoàn sẽ thúc đẩy natri niệu.
Một số bệnh nhân bị hội chứng TURP có các triệu chứng của ngộ độc nước, rối loạn thần kinh do tăng lượng nước trong não ( phù não). Ban đầu xuất hiện tình trạng ngủ gà và sau đó kích thích, buồn nôn. Động kinh có thể xẩy ra có thể dẫn đến hôn mê, chết não. Bệnh nhân sẽ có tăng phản xạ gân xương và phản xạ Babinski dương tính.
Phù gai thị kèm theo giãn đồng tử và chậm đáp ứng phản xạ ánh sáng có thể xuất hiện. Trên EEG thấy sóng điện não thấp ở cả 2 bán cầu.
Các triệu chứng của ngộ độc nước có thể xuất hiện khi Na máu hạ dưới mức bình thường 15 – 2-0 meq/l.
3. Hạ Na máu
Giữ tính kích thích và dẫn truyền thần kinh - cơ do duy trì hiệu thế hoạt động giữa trong và ngoài tế bào, đặc biệt tế bào cơ tim và tế bào não.
Một số cơ chế dẫn đến giảm Na máu ở các bệnh nhân TURP:
Do hấp thu dịch rửa quá mức làm pha loãng Na máu.
Mất trực tiếp Na ra ngoài qua hệ thống tưới rửa dịch ở diện mổ nội soi cắt khối tăng sinh tuyến tiền liệt.
Mất Na do tích tụ dịch ở khoang sau phúc mạc và khoang quanh tuyến tiền liệt.
Số lượng lớn glycin kích thích giải phóng peptid natri lợi liệu tâm nhĩ ( ANP - atrial natriuretic peptide) vượt quá giới hạn bình thường ở trong tuần hoàn sẽ thúc đẩy natri niệu.
- Các triệu chứng của hạ Na máu gồm kích thích, bồn chồn, lú lẫn, sa sút tâm thần, hôn mê và động kinh. Khi Na máu < 120meq/l, hạ huyết áp và giảm co bóp cơ tim xuất hiện.
- Dưới 115 meq/l, nhịp tim chậm, phức bộ QRS giãn rộng, ngoại tâm thu thất (ventricular ectopics) và sóng T đảo ngược xẩy ra.
- Dưới 100 meq/l xuất hiện cơn co giật toàn thân, hôn mê, ngừng thở, nhịp nhanh thất, rung thất ( VF) và ngừng tim xẩy ra.
- Dưới 115 meq/l, nhịp tim chậm, phức bộ QRS giãn rộng, ngoại tâm thu thất (ventricular ectopics) và sóng T đảo ngược xẩy ra.
- Dưới 100 meq/l xuất hiện cơn co giật toàn thân, hôn mê, ngừng thở, nhịp nhanh thất, rung thất ( VF) và ngừng tim xẩy ra.
Nhu cầu Na được tính theo công thức sau:
Na thiếu hụt = (Na cần đạt – Na người bệnh) x Tổng lượng nước cơ thể( thường bằng 60% trọng lượng cơ thể)
4. Ngộ độc Glycine
Hấp thu quá mức glycin vào tuần hoàn sẽ gây độc cho tim, võng mạc và có thể làm tăng hồng cầu. Glycine làm giảm sức sống và sự sống còn của các tế bào tim bị cô lập (isolated cardiomyocytes). Glycine 1,5% có liên quan đến các tác dụng phụ bán cấp trên cơ tim, biểu hiện như trầm cảm hoặc sóng T đảo ngược trên điện tâm đồ 24 giờ sau phẫu thuật.
Hấp thu quá 500 ml dịch đã được chứng minh là tăng gấp đôi nguy cơ lâu dài của nhồi máu cơ tim cấp. Đây có thể là một trong những lý do dẫn đến nguy cơ biến chứng tử vong sau này cao hơn sau khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ tiền liệt tuyến so với mổ mở, nó đã được thảo luận giữa các chuyên gia về tiết niệu trong nhiều năm qua.
TURP dường như làm giảm chức năng cơ tim, đặc biệt khi thời gian phẫu thuật vượt quá 1 giờ và khi glycine được sử dụng ở nhiệt độ phòng. Khoảng 0,5% bệnh nhân có nhồi máu cơ tim cấp tính trong quá trình TURP, mặc dù thiếu máu cơ tim thoáng qua đã phát hiện trong 20% các TURP.
Hạ Calci máu cũng được coi như một nguyên nhân gây rối loạn tim mạch cấp khi glycine được hấp thu. Tuy nhiên, canxi máu được phục hồi nhanh hơn, có thể là do chuyển hóa canxi từ các mô xương.
Glycine được biết đến là một chất ức chế dẫn truyền thần kinh chính trong tủy sống và trong thân não, có thể hoạt động theo cách giống như axit gamma aminobutyric trên kênh ion clorua. Nồng độ quá cao có thể gây trầm cảm nghiêm trọng và các rối loạn thị giác.
Axit glycolic, formate và formaldehyde là các chất chuyển hóa khác của glycine cũng có thể gây rối loạn thị giác.
Biểu hiện độc tính glycine là buồn nôn, nôn mửa, thở chậm, co giật, chóng mặt và xanh tím, tụt huyết áp, thiểu niệu, vô niệu và sau đó tử vong. Khi arginine, một amino acid được tiêm vào BN ngộ độc, hiệu ứng độc hại của glycine trên tim bị giảm. Cơ chế mà arginine bảo vệ tim là không rõ. Giá trị bình thường của glycine huyết thanh ở người là 13 - 17 mg/l.
Ngộ độc glycine rất hiếm gặp ở bệnh nhân TURP có lẽ vì hầu hết glycine hấp thu được giữ lại trong các khoảng quanh tiền liệt tuyến và khoang sau phúc mạc, nơi nó không có tác động toàn thân.
5. Ngộ độc Amoniac
Amoniac là một sản phẩm phụ chủ yếu trong quá trình chuyển hóa glycine. "Nồng độ ammonia cao ngăn chặn norepinephrine và dopamine phóng thích trong não, gây ra chứng bệnh não của hội chứng TURP”.
May mắn là độc tính ammonia rất hiếm ở người. Độc tính xảy ra trong vòng một giờ sau khi tăng trương lực. Bệnh nhân có buồn nôn và nôn và sau đó đi vào hôn mê.
Hàm lượng ammonia trong máu tăng trên 500 micromols /l (giá trị bình thường là 11 - 35 micromols /l). Chứng tăng amoniac máu kéo dài hơn mười giờ sau phẫu thuật, có thể vì glycine tiếp tục được hấp thu từ khoang quanh tuyến tiền liệt.
Chưa rõ tại sao chứng tăng amoniac (hyperammonemia) không xẩy ra ở tất cả các bệnh nhân TURP. Hyperammonemia cho thấy cơ thể không thể chuyển hoá toàn bộ glycine qua hệ thống phân tách glycine, chu kỳ axit citric và chuyển đổi thành axit glycolic và axit glyoxylic. Amoniac thường liên quan với urê trong gan thông qua chu kỳ ornithin.
Ngoài ra có thể là thiếu arginine. Arginine là một trong những sản phẩm trung gian cần thiết cho chu kỳ ornithin. Khi một bệnh nhân bị thiếu arginine, chu kỳ ornithine không được nạp nhiên liệu và do đó ammonia không được đào thải.
Na thiếu hụt = (Na cần đạt – Na người bệnh) x Tổng lượng nước cơ thể( thường bằng 60% trọng lượng cơ thể)
4. Ngộ độc Glycine
Hấp thu quá mức glycin vào tuần hoàn sẽ gây độc cho tim, võng mạc và có thể làm tăng hồng cầu. Glycine làm giảm sức sống và sự sống còn của các tế bào tim bị cô lập (isolated cardiomyocytes). Glycine 1,5% có liên quan đến các tác dụng phụ bán cấp trên cơ tim, biểu hiện như trầm cảm hoặc sóng T đảo ngược trên điện tâm đồ 24 giờ sau phẫu thuật.
Hấp thu quá 500 ml dịch đã được chứng minh là tăng gấp đôi nguy cơ lâu dài của nhồi máu cơ tim cấp. Đây có thể là một trong những lý do dẫn đến nguy cơ biến chứng tử vong sau này cao hơn sau khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ tiền liệt tuyến so với mổ mở, nó đã được thảo luận giữa các chuyên gia về tiết niệu trong nhiều năm qua.
TURP dường như làm giảm chức năng cơ tim, đặc biệt khi thời gian phẫu thuật vượt quá 1 giờ và khi glycine được sử dụng ở nhiệt độ phòng. Khoảng 0,5% bệnh nhân có nhồi máu cơ tim cấp tính trong quá trình TURP, mặc dù thiếu máu cơ tim thoáng qua đã phát hiện trong 20% các TURP.
Hạ Calci máu cũng được coi như một nguyên nhân gây rối loạn tim mạch cấp khi glycine được hấp thu. Tuy nhiên, canxi máu được phục hồi nhanh hơn, có thể là do chuyển hóa canxi từ các mô xương.
Glycine được biết đến là một chất ức chế dẫn truyền thần kinh chính trong tủy sống và trong thân não, có thể hoạt động theo cách giống như axit gamma aminobutyric trên kênh ion clorua. Nồng độ quá cao có thể gây trầm cảm nghiêm trọng và các rối loạn thị giác.
Axit glycolic, formate và formaldehyde là các chất chuyển hóa khác của glycine cũng có thể gây rối loạn thị giác.
Biểu hiện độc tính glycine là buồn nôn, nôn mửa, thở chậm, co giật, chóng mặt và xanh tím, tụt huyết áp, thiểu niệu, vô niệu và sau đó tử vong. Khi arginine, một amino acid được tiêm vào BN ngộ độc, hiệu ứng độc hại của glycine trên tim bị giảm. Cơ chế mà arginine bảo vệ tim là không rõ. Giá trị bình thường của glycine huyết thanh ở người là 13 - 17 mg/l.
Ngộ độc glycine rất hiếm gặp ở bệnh nhân TURP có lẽ vì hầu hết glycine hấp thu được giữ lại trong các khoảng quanh tiền liệt tuyến và khoang sau phúc mạc, nơi nó không có tác động toàn thân.
5. Ngộ độc Amoniac
Amoniac là một sản phẩm phụ chủ yếu trong quá trình chuyển hóa glycine. "Nồng độ ammonia cao ngăn chặn norepinephrine và dopamine phóng thích trong não, gây ra chứng bệnh não của hội chứng TURP”.
May mắn là độc tính ammonia rất hiếm ở người. Độc tính xảy ra trong vòng một giờ sau khi tăng trương lực. Bệnh nhân có buồn nôn và nôn và sau đó đi vào hôn mê.
Hàm lượng ammonia trong máu tăng trên 500 micromols /l (giá trị bình thường là 11 - 35 micromols /l). Chứng tăng amoniac máu kéo dài hơn mười giờ sau phẫu thuật, có thể vì glycine tiếp tục được hấp thu từ khoang quanh tuyến tiền liệt.
Chưa rõ tại sao chứng tăng amoniac (hyperammonemia) không xẩy ra ở tất cả các bệnh nhân TURP. Hyperammonemia cho thấy cơ thể không thể chuyển hoá toàn bộ glycine qua hệ thống phân tách glycine, chu kỳ axit citric và chuyển đổi thành axit glycolic và axit glyoxylic. Amoniac thường liên quan với urê trong gan thông qua chu kỳ ornithin.
Ngoài ra có thể là thiếu arginine. Arginine là một trong những sản phẩm trung gian cần thiết cho chu kỳ ornithin. Khi một bệnh nhân bị thiếu arginine, chu kỳ ornithine không được nạp nhiên liệu và do đó ammonia không được đào thải.
6. Giảm khối lượng tuần hoàn, hạ huyết áp.
Các dấu hiệu huyết động cổ điển của hội chứng TURP, khi glycine được sử dụng làm dịch rửa, bao gồm tăng huyết áp động mạch thoáng qua, có thể không có biểu hiện tăng HA nếu chảy máu ồ ạt, thâm chí là sự hạ áp kéo dài. Giải phóng các chất của tiền liệt tuyến và các nội độc tố vào tuần hoàn và nhiễm toan chuyển hóa góp phần làm hạ huyết áp. Mất máu trong quá trình TURP dẫn đến tình trạng giảm thể tích, gây ra tổn hại đáng kể về khả năng vận chuyển ôxy dẫn đến thiếu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim. Mất máu liên quan với kích thước tuyến tiền liệt được cắt bỏ, thời gian phẫu thuật và kỹ năng của bác sĩ phẫu thuật. Lượng mất máu trung bình trong suốt TURP là 10 m1/gram tuyến tiền liệt bị cắt bỏ.
7. Các rối loạn thị giác
Một trong những biến chứng đáng sợ nhất của hội chứng TURP là mù tạm thời, tầm nhìn lờ mờ sương và nhìn thấy các quầng xung quanh vật thể, đồng tử giãn và không đáp ứng, đĩa thị bình thường. Các triệu chứng có thể cùng tồn tại hoặc có thể xuất hiện đơn độc. Thị lực sẽ bình thường lại sau 848h sau phẫu thuật.
Mù sau TURP là rối loạn chức năng võng mạc có thể do độc tính của glycine. Do đó cần duy trì nhận biết ánh sáng và phản xạ chớp mắt và phản xạ ánh sáng và điều tiết thị lực bị mất sau TURP cho BN.
Mù sau TURP khác mù do rối loạn chức năng vỏ não.
8. Thủng
Thủng bàng quang có thể xảy ra trong quá trình TURP do dụng cụ phẫu thuật, trong trường hợp khó giải phẫu, bàng quang căng giãn.
Thủng vỏ bao tiền liệt tuyến ước tính xảy ra ở 1% bệnh nhân TURP. Dấu hiệu ban đầu của thủng thường k được chú ý, sự phục hồi nước tiểu ở bàng quang, đau hạ vị, đau thắt ngực, buồn nôn và khó chịu, nhịp tim chậm, tụt huyết áp động mạch nặng, ngoài ra còn có nguy cơ cao BN đái k tự chủ.
Thủng phúc mạc, các triệu chứng diễn ra rầm rộ. BN có biểu hiện đau lan lên vai do kích thích của cơ hoành và nấc là các triệu trứng đặc trưng. Xanh xao, vã mồ hôi, co cứng bụng, buồn nôn, nôn, hạ huyết áp có thể xảy ra. Trong thủng ngoài phúc mạc, những phản xạ chi dưới có thể xảy ra.
Nổ trong bàng quang rất hiếm khi xảy ra. Sự ứ đọng mô tuyến tiền liệt giải phóng khí gas. Thông thường không đủ oxy ở trong bàng quang để có thể nổ xảy ra. Nhưng khi có không khí vào theo hệ thống tưới rửa thì vụ nổ có thể xảy ra.
9. Đông máu
Đông máu nội mạch rải rác ( DIC) hoặc rối loạn đông máu có thể xảy ra do sự giải phóng thromboplastin từ các mô TLT vào tuần hoàn gây ra giảm fibrin. Giảm tiểu cầu làm nặng thêm tình trạng này. DIC có thể phát hiện do giảm số lượng tiểu cầu trong máu, nồng độ cao của các sản phẩm giáng hóa fibrin (FDP >150mg/dl) và nồng độ thấp của fibriogen huyết tương(400mg/dl)
10. Nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, thiếu máu.
Khoảng 30% các bệnh nhân TURP có nhiễm khuẩn tiết niệu trước phẫu thuật. Khi xoang tĩnh mạch của TLT rò trước phẫu thuật và áp lực trong bàng quang tăng, vi khuẩn xâm nhập vào hệ tuần hoàn. 6% bệnh nhân bệnh bacteremia là biến chứng do nhiễm khuẩn huyết. Hấp thu độc tố của vi khuẩn và các sản phẩm độc từ máu đông làm nặng thêm tình trạng nhiễm độc ở các bệnh nhân sau phẫu thuật.
Ớn lạnh, sốt, giãn mao mạch và hạ huyết áp có thể xảy ra tạm thời ở những bệnh nhân này.
11. Hạ thân nhiệt
Hạ thân nhiệt luôn được chú ý ở BN trong quá trình TURP do nhiệt độ cơ thể giảm gây thay đổi huyết động, run làm tăng đáng kể mức tiêu thụ oxy.
Tưới rửa bàng quang là một nguồn gây mất nhiệt đáng kể và việc sử dụng nước tưới ở nhiệt độ phòng làm giảm nhiệt độ cơ thể đi 12°C, nếu phòng có điều hòa BN sẽ mất nhiệt nhiều hơn.
Bệnh nhân lớn tuổi đặc biệt dễ bị hạ thân nhiệt vì có thể rối loạn chức năng tự động. Tình trạng co thắt mạch và nhiễm toan có thể ảnh hưởng xấu đến tim và có thể góp phần vào các biểu hiện của hệ thần kinh trung ương ( CNS). Run rẩy cũng có thể làm tăng máu chảy ra từ diện cắt.
Các dấu hiệu huyết động cổ điển của hội chứng TURP, khi glycine được sử dụng làm dịch rửa, bao gồm tăng huyết áp động mạch thoáng qua, có thể không có biểu hiện tăng HA nếu chảy máu ồ ạt, thâm chí là sự hạ áp kéo dài. Giải phóng các chất của tiền liệt tuyến và các nội độc tố vào tuần hoàn và nhiễm toan chuyển hóa góp phần làm hạ huyết áp. Mất máu trong quá trình TURP dẫn đến tình trạng giảm thể tích, gây ra tổn hại đáng kể về khả năng vận chuyển ôxy dẫn đến thiếu máu cục bộ và nhồi máu cơ tim. Mất máu liên quan với kích thước tuyến tiền liệt được cắt bỏ, thời gian phẫu thuật và kỹ năng của bác sĩ phẫu thuật. Lượng mất máu trung bình trong suốt TURP là 10 m1/gram tuyến tiền liệt bị cắt bỏ.
7. Các rối loạn thị giác
Một trong những biến chứng đáng sợ nhất của hội chứng TURP là mù tạm thời, tầm nhìn lờ mờ sương và nhìn thấy các quầng xung quanh vật thể, đồng tử giãn và không đáp ứng, đĩa thị bình thường. Các triệu chứng có thể cùng tồn tại hoặc có thể xuất hiện đơn độc. Thị lực sẽ bình thường lại sau 848h sau phẫu thuật.
Mù sau TURP là rối loạn chức năng võng mạc có thể do độc tính của glycine. Do đó cần duy trì nhận biết ánh sáng và phản xạ chớp mắt và phản xạ ánh sáng và điều tiết thị lực bị mất sau TURP cho BN.
Mù sau TURP khác mù do rối loạn chức năng vỏ não.
8. Thủng
Thủng bàng quang có thể xảy ra trong quá trình TURP do dụng cụ phẫu thuật, trong trường hợp khó giải phẫu, bàng quang căng giãn.
Thủng vỏ bao tiền liệt tuyến ước tính xảy ra ở 1% bệnh nhân TURP. Dấu hiệu ban đầu của thủng thường k được chú ý, sự phục hồi nước tiểu ở bàng quang, đau hạ vị, đau thắt ngực, buồn nôn và khó chịu, nhịp tim chậm, tụt huyết áp động mạch nặng, ngoài ra còn có nguy cơ cao BN đái k tự chủ.
Thủng phúc mạc, các triệu chứng diễn ra rầm rộ. BN có biểu hiện đau lan lên vai do kích thích của cơ hoành và nấc là các triệu trứng đặc trưng. Xanh xao, vã mồ hôi, co cứng bụng, buồn nôn, nôn, hạ huyết áp có thể xảy ra. Trong thủng ngoài phúc mạc, những phản xạ chi dưới có thể xảy ra.
Nổ trong bàng quang rất hiếm khi xảy ra. Sự ứ đọng mô tuyến tiền liệt giải phóng khí gas. Thông thường không đủ oxy ở trong bàng quang để có thể nổ xảy ra. Nhưng khi có không khí vào theo hệ thống tưới rửa thì vụ nổ có thể xảy ra.
9. Đông máu
Đông máu nội mạch rải rác ( DIC) hoặc rối loạn đông máu có thể xảy ra do sự giải phóng thromboplastin từ các mô TLT vào tuần hoàn gây ra giảm fibrin. Giảm tiểu cầu làm nặng thêm tình trạng này. DIC có thể phát hiện do giảm số lượng tiểu cầu trong máu, nồng độ cao của các sản phẩm giáng hóa fibrin (FDP >150mg/dl) và nồng độ thấp của fibriogen huyết tương(400mg/dl)
10. Nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, thiếu máu.
Khoảng 30% các bệnh nhân TURP có nhiễm khuẩn tiết niệu trước phẫu thuật. Khi xoang tĩnh mạch của TLT rò trước phẫu thuật và áp lực trong bàng quang tăng, vi khuẩn xâm nhập vào hệ tuần hoàn. 6% bệnh nhân bệnh bacteremia là biến chứng do nhiễm khuẩn huyết. Hấp thu độc tố của vi khuẩn và các sản phẩm độc từ máu đông làm nặng thêm tình trạng nhiễm độc ở các bệnh nhân sau phẫu thuật.
Ớn lạnh, sốt, giãn mao mạch và hạ huyết áp có thể xảy ra tạm thời ở những bệnh nhân này.
11. Hạ thân nhiệt
Hạ thân nhiệt luôn được chú ý ở BN trong quá trình TURP do nhiệt độ cơ thể giảm gây thay đổi huyết động, run làm tăng đáng kể mức tiêu thụ oxy.
Tưới rửa bàng quang là một nguồn gây mất nhiệt đáng kể và việc sử dụng nước tưới ở nhiệt độ phòng làm giảm nhiệt độ cơ thể đi 12°C, nếu phòng có điều hòa BN sẽ mất nhiệt nhiều hơn.
Bệnh nhân lớn tuổi đặc biệt dễ bị hạ thân nhiệt vì có thể rối loạn chức năng tự động. Tình trạng co thắt mạch và nhiễm toan có thể ảnh hưởng xấu đến tim và có thể góp phần vào các biểu hiện của hệ thần kinh trung ương ( CNS). Run rẩy cũng có thể làm tăng máu chảy ra từ diện cắt.
No comments:
Post a Comment